Bảo Tháp Tây Tạng - Chorten
Các bảo tháp trong Phật giáo Tây Tạng và Phật giáo Nguyên thủy, cũng như các bảo tháp phổ biến ở Ấn Độ cổ đại và Nhật Bản, hầu hết đều được xây dựng theo quy cách, tỷ lệ và cách biểu đạt trong kinh điển, đại diện cho Tam Thân, Tam Giới, và "ngũ đại" (Đất, Nước, Lửa, Gió, Không). Bên trong phần hình trụ của bảo tháp thường thờ xá lợi của các bậc thánh, kinh văn, và các pháp khí linh thiêng khác. Vì vậy, các Phật tử tích lũy công đức khi đi nhiễu quanh bảo tháp hoặc cúng dường lên bảo tháp.
Nguồn gốc của Bảo tháp
Theo ghi chép lịch sử, sau khi các vị vua Ấn Độ cổ đại qua đời, họ đều xây những ngôi mộ hình bán cầu, được cho là nguyên mẫu của bảo tháp.
Theo sử liệu của vương triều Yarlung ghi lại, Chorten Phật giáo được du nhập vào Tây Tạng dưới thời vua Lha Thothori Nyan Btsan (khoảng thế kỷ 4 sau Công nguyên). Các học giả sau này tin rằng đây là thời điểm Phật giáo lần đầu tiên đến Tây Tạng. Nếu tính từ thời điểm đó, bảo tháp ở Tây Tạng đã có lịch sử hơn 1.600 năm.
Người Tây Tạng tin rằng việc xây dựng các Chorten Phật giáo là một hành động tích lũy công đức. Ở vùng Tây Tạng, không chỉ các tu sĩ Tây Tạng mà cả người dân thường cũng xây Chorten, khiến Tây Tạng trở thành một trong những nơi tập trung nhiều bảo tháp nhất trên thế giới.
Tám Loại Chorten trong Phật giáo Tây Tạng
Để tưởng niệm tám sự kiện trọng đại trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tám loại bảo tháp khác nhau đã được xây dựng tại tám địa điểm.
1. Bảo Tháp Hoa Sen
Bảo Tháp Hoa Sen, còn gọi là Tháp Liên Hoa Tích, tượng trưng cho sự đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật đản sinh tại Lâm Tỳ Ni ở phía Bắc Ấn Độ cổ đại (thị trấn Kapilavastu của Nepal ngày nay). Tương truyền sau khi đản sinh, Đức Phật đã bước bảy bước về bốn phương, mỗi bước chân đều nở ra một đóa sen. Phụ vương Tịnh Phạn và dòng họ Thích Ca đã xây một bảo tháp vì điều này. Bốn tầng của bảo tháp có hình tròn, được trang trí bằng những cánh sen.2. Bảo Tháp Thành Đạo
Bảo Tháp Thành Đạo, còn gọi là Bồ Đề Tháp, tượng trưng cho việc Đức Phật thành đạo dưới cội Bồ đề. Tương truyền khi Đức Phật 35 tuổi, Ngài ngồi kiết già hướng về phía Đông dưới cây Kim Cang Bồ Đề ở Ấn Độ cổ đại. Sau bảy ngày bảy đêm thiền định và quán chiếu, cuối cùng Ngài đã giác ngộ và thành Phật. Vua Tần Bà Sa La đã xây một bảo tháp bốn tầng vì sự kiện này.3. Bảo Tháp Nhiều Cửa
Bảo tháp này tưởng niệm sự kiện Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên thuyết giảng Tứ Diệu Đế cho năm vị đệ tử tại Lộc Uyển gần Sarnath, 49 ngày sau khi thành đạo. Năm vị Tỳ kheo đã xây một bảo tháp bốn tầng với nhiều cửa ở mỗi tầng và mỗi hướng.4. Bảo Tháp Từ Cõi Trời Trở Về
Không lâu sau khi Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh, thân mẫu của Ngài qua đời vì bệnh và do thiện nghiệp nên được tái sinh lên cõi trời. Sau khi Thái tử thành Phật, vào năm 42 tuổi, Ngài đã thăng lên cõi trời để thuyết pháp cho mẹ, báo đáp ân đức. Sau khi thuyết pháp, Đức Phật từ cõi trời trở về cõi người. Bảo tháp này được xây có thang để tưởng niệm việc Đức Phật từ cõi trời giáng trần sau khi thuyết pháp.5. Bảo Tháp Đại Thần Thông
Bảo Tháp Đại Thần Thông, còn gọi là Tháp Hàng Phục Ngoại Đạo, chỉ về các phép thần thông mà Đức Phật đã thực hiện khi Ngài 50 tuổi. Khi đó có "Lục Sư Ngoại Đạo", mỗi vị đều chủ trương giáo lý đối nghịch với Phật pháp và đã thách thức Đức Phật tại thành Xá Vệ. Tuy nhiên, Đức Phật Cồ Đàm cuối cùng đã thuyết phục được họ và độ họ quy y Phật giáo. Bảo tháp này được xây với phần giữa nổi bật để tưởng niệm thần thông của Đức Phật.6. Bảo Tháp Hòa Giải
Bảo tháp này tưởng niệm nỗ lực của Đức Phật trong việc giải quyết sự chia rẽ giữa các bộ phái tăng đoàn. Đã có lúc các đệ tử lập ra một bộ phái khác, dẫn đến sự phân chia trong Tăng đoàn. Đức Phật đã đến Trúc Lâm Tinh Xá (tu viện Phật giáo đầu tiên ở Rajgir, Ấn Độ) để thuyết pháp hòa giải họ và cuối cùng đoàn kết Tăng đoàn trở lại. Bảo tháp hình bát giác 4 tầng này được xây vì mục đích đó.7. Bảo Tháp Toàn Thắng
Bảo tháp này được xây để tưởng niệm việc Đức Phật gia hạn thọ mệnh thêm ba tháng khi các đệ tử cầu xin Ngài ở lại. Bảo tháp hình tròn ba tầng này được xây vì mục đích đó.8. Bảo Tháp Niết Bàn
Khi Đức Phật 81 tuổi, Ngài nằm nghiêng, mặt hướng về phía Tây, tay phải chống đầu, hướng về phía Bắc, bên ngoài thành Câu Thi Na và nhập Niết Bàn.
Bảo tháp này tưởng niệm việc Đức Phật nhập Niết Bàn tại Câu Thi Na khi thân Ngài 80 tuổi. Nó biểu thị việc Đức Phật đạt đến trạng thái an lạc chân thực và giải thoát khỏi vòng luân hồi. Bảo tháp này được xây theo hình chuông.
Bảo Tháp Tây Tạng
Bảo tháp Tây Tạng là một phần quan trọng của bảo tháp Phật giáo. Đó là sự kết hợp giữa bảo tháp Phật giáo và kiến trúc Tây Tạng, là nét đặc trưng riêng của Phật giáo Tây Tạng. Bảo tháp Tây Tạng phát triển từ đài tưởng niệm do các Phật tử xây dựng sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt ở Ấn Độ.
Một số bảo tháp Tây Tạng khác chứa tro cốt của các tu sĩ Phật giáo thay vì nhục thân được bảo quản.
Bảo tháp Tây Tạng thể hiện một hình thức tang lễ độc đáo của người Tây Tạng. Nó giữ một vị trí cao quý trong lòng các Phật tử Tây Tạng. Hầu hết các tu viện Tây Tạng đều thờ nhiều loại bảo tháp khác nhau. Dưới đây là một số bảo tháp Tây Tạng nổi tiếng,
Bảo Tháp tại Chùa Tradruk
Một tài liệu cổ điển Tây Tạng viết rằng Tạng vương Songtsen Gampo (?- 650 sau CN) đã xây một Chorten Phật giáo năm đỉnh tại chùa Tradruk. Đây là bảo tháp Tây Tạng đầu tiên được ghi lại trong tư liệu lịch sử.
Bảo Tháp tại Tu viện Samye
Tu viện Samye là ngôi chùa Phật giáo Tây Tạng đầu tiên có đầy đủ Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Bốn Chorten với màu trắng, đỏ, đen và xanh lá cây được xây ở bốn góc. Có 1.008 Chorten nhỏ trên các bức tường xung quanh tu viện Samye, và nhiều hình thức tháp khác được xây ở xa hơn ngoài khuôn viên chùa.
Bảo Tháp tại Tu viện Pelkor Chode
Bảo Tháp tại Cung điện Potala
Có tám bảo tháp được xây trong Cung điện Potala.
Mái vòm bằng vàng lấp lánh trên đỉnh Cung điện Potala là nơi đặt các linh tháp của tám vị Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.
Bảo Tháp tại Tu viện Tashilhunpo
Trong tu viện Tashilhunpo, có một bảo tháp được xây để chứa nhục thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ nhất, Gedun Drupa (1391-1474), và nhục thân của các vị Ban Thiền Lạt Ma kế tiếp.